Articles by "benh-ly-xuong-khop"
Hiển thị các bài đăng có nhãn benh-ly-xuong-khop. Hiển thị tất cả bài đăng

Theo trung dược đại từ điển, đu đủ chứa một loại kẽm có tác dụng phòng chống ung thư và sát trùng diệt khuẩn. Men protein trong đu đủ giúp tiêu nó protein, chữa rối loạn tiêu hóa và viêm dạ dày mãn tính, chân gối mỏi… Ngoài ra lá đu đủ giã nát đắp vào mụn nhọt, vết loét có tác dụng điều trị nhất định. Không những vậy đu đủ còn có tác dụng trong việc chữa gai cột sống hiệu quả mà lại rẻ. 


Bài thuốc điều trị gai cột sống bằng hạt đu đủ:


Tình cờ có người chỉ cho bài thuốc điều trị gai cột sống. Tôi cũng đã chỉ lại cho vài người (đã có 2 người báo kết quả rất tốt, mấy người kia thì chưa gặp lại). Ghi ra đây cho mọi người tham khảo:

Bước 1: Lấy 1 ly nhỏ hạt đu đủ chín (cao khoảng 5cm, miệng rộng khoảng 2cm-3cm, đích ly nhỏ, tôi tả theo dáng cái ly mà người bác chỉ bài thuốc đưa tôi xem). Nhớ lấy hạt chín thôi nha (hạt chín thường có màu đen đen).

Bước 2: Bỏ hạt chín vào miếng vải mùng bóp nhè nhẹ cho dập màng nước, bỏ lớp màng đó đi, sau đó thấm bớt nước, nhưng nhớ để hạt hơi ẩm ẩm chứ đừng để hạt khô quá.

Bước 3: Giã hạt đu đủ cho nát, nằm úp xuống và đặt 1 miếng vải mùng lên chỗ đốt sống lưng bị gai (nên chụp X-Quang để biết chính xác mình bị ở đốt sống lưng thứ mấy, nếu người nào không chụp X-Quang thì đặt hạt đu đủ ở chỗ bị đau), rồi bỏ hạt đu đủ lên, sau đó lấy một mảnh vải mùng dài cột chặt lại cho khỏi rớt.



Nằm khoảng 15 phút, sau đó đắp lớp thứ 2. Lưu ý là khi đắp sẽ có cái cảm giác rứt rứt ở da do nước hạt đu đủ thấm vào da.

Hàng ngày cứ đắp như vậy khoảng 1 tháng. Sau đó tùy theo tình hình bệnh mà tiếp tục thêm vài ngày hay ngưng hẳn.

Những tác dụng khác của Đu đủ:


Bạn nên ăn nhiều đu đủ để bổ sung vitamin A vì đu đủ chứa nhiều vitamin A, canxi và dồi dào nguồn kali.

Đu đủ cũng chứa vitamin B, vitamin B-6, vitamin B-1 và riboflavin rất tốt cho hệ tiêu hóa. Nếu bạn bị rối loạn tiêu hóa hoặc muốn phòng ngừa chứng táo bón, hãy thử ăn đu đủ.



Bên cạnh việc “chăm sóc” đường tiêu hóa của bạn, đu đủ cung cấp ít năng lượng và chứa nhiều chất dinh dưỡng rất phù hợp với chế độ giảm cân.

Hy vọng rằng những kiến thức được bác sĩ chia sẻ có thể giúp ích cho bạn nhé. Chúc bạn luôn vui khỏe và hạnh phúc cùng người thân.

Trường hợp chẩn đoán và điều trị bệnh khớp do thần kinh tổn thương biến dạng nặng hay gãy xương có thể cần phải phẫu thuật nẹp vít bên trong xương, lấy bỏ các mảnh dị vật - các canxi hóa trong khớp, làm cứng khớp hay phẫu thuật thay khớp toàn bộ.


Điều trị nguyên nhân, đặc biệt khi phát hiện sớm, điều trị tích cực bệnh chính có thể làm chậm quá trình tổn thương khớp.

Điều trị bảo tồn: những trường hợp phát hiện sớm cần bất động khớp (bằng giày thiết kế chuyên dụng, bó bột hay dụng cụ nẹp ngoài...), hạn chế tối đa trọng lực cơ thể cũng như các lực ngoại cảnh tác dụng lên khớp tổn thương để bảo vệ khớp khỏi các chấn thương tiếp diễn, qua đó làm chậm tiến trình bệnh. Dùng các thuốc giảm đau, giảm sưng nề khớp cũng như tăng mật độ xương tại chỗ. Phối hợp các biện pháp vật lý trị liệu phục hồi chức năng chống loét do tì đè.

Phòng và điều trị các biến chứng, đặc biệt biến chứng nhiễm khuẩn phần mềm quanh khớp, nhiễm khuẩn khớp, xương.

Chụp X-quang khớp bị tổn thương: Có thể phát hiện giai đoạn sớm hay muộn của bệnh. Trên Xquang cần chẩn đoán phân biệt bệnh với các bệnh thoái hóa khớp, hoại tử xương, bệnh khớp lắng đọng tinh thể canxi pyrophosphat, bệnh khớp do tiêm corticoid nội khớp, nhiễm khuẩn xương khớp...



Siêu âm khớp: Có thể phát hiện dịch trong khớp, dày màng hoạt dịch, hẹp khe khớp, định hướng cho hút dịch làm xét nghiệm để chẩn đoán những trường hợp viêm khớp nhiễm khuẩn. Chụp cắt lớp vi tính có thể giúp đánh giá tốt hơn tổn thương vỏ xương, mảnh xương chết hay khí ở trong xương.

Chụp cộng hưởng từ, đặc biệt có phối hợp thuốc cản quang, có ích trong phân biệt tổn thương tủy trong bệnh rỗng tủy với các viêm tủy nhiễm khuẩn, viêm đĩa đệm đốt sống nhiễm khuẩn cũng như giúp chẩn đoán một số biến chứng nhiễm khuẩn xương, khớp ở vị trí khác ngoài cột sống.

Chẩn đoán xác định bệnh dựa vào tiền sử bệnh nhân có bệnh lý tổn thương thần kinh (như đái tháo đường, giang mai, phong, bệnh rỗng tủy...) trước đó nhiều năm, xuất hiện đau, sưng khớp với tiến triển từ từ tăng dần, có sự bất cân xứng giữa mức độ đau với tổn thương khớp, xương. Cần kết hợp với chụp Xquang để khẳng định chẩn đoán.

Chẩn đoán phân biệt với các bệnh thoái hóa khớp, bệnh gút, bệnh giả gút (khớp viêm do lắng đọng tinh thể pyrophosphat), viêm khớp nhiễm khuẩn, viêm khớp do bệnh tự miễn (viêm khớp dạng thấp, viêm khớp vẩy nến...), viêm khớp phản ứng, hội chứng loạn dưỡng thần kinh giao cảm. Ví dụ trong giai đoạn sớm của bệnh khớp do nguyên nhân thần kinh, hình ảnh trên Xquang gần tương tự như trong thoái hóa khớp với tam chứng hẹp khe khớp, đặc xương dưới sụn, mọc gai xương ở rìa khớp.

Hy vọng những chia sẽ của bác sĩ sẽ giúp bạn có những kiến thức để bảo vệ sức khỏe của mình và gia đình được tốt hơn. Chúc bạn luôn vui vẻ và mạnh khỏe.

Căn bệnh này chủ yếu là do di truyền bởi gen trội hoặc lặn từ phía bố hoặc mẹ. Đây là một bệnh bẩm sinh, trẻ bị mắc bệnh có tỷ trọng xương giảm. Trong những trường hợp nặng, bệnh biểu hiện ngay khi chào đời khiến trẻ sơ sinh bị gãy nhiều xương.


Phần lớn trẻ bị bệnh chết sau khi sinh một thời gian ngắn. Bệnh có thể biểu hiện muộn ở những trường hợp nhẹ hơn làm ảnh hưởng tới sự phát triển của khối cơ làm giảm sức bền cơ.

Chăm sóc trẻ mắc bệnh xương thủy tinh. Không nên bế xốc nách trẻ lên. Không được kéo tay, chân hoặc nắm mắt cá trẻ nhấc lên trong khi thay tã. Để nhấc trẻ lên, động tác thích hợp nhất là xoè rộng bàn tay mình ra hết mức, đặt xuống một phần vào mông và một phần đùi (mặt sau); tay còn lại cũng xoè ra đặt vào phần vai - gáy - đầu và bế trẻ lên.

Đừng tự hành hạ hay trách móc mình khi xương trẻ gãy đi gãy lại. Dù có cẩn thận đến đâu thì xương vẫn cứ gãy tự nhiên.

Khi chuyên chở trẻ trong xe, cần có ghế ngồi được thiết kế cho phù hợp, có lót đệm mút cho trẻ dễ chịu. Khi di chuyển trẻ, tốt nhất là di chuyển luôn cả ghế.

Chăm sóc trẻ mắc bệnh xương thủy tinh

Chăm sóc trẻ bị bệnh xương thủy tinh:


Xương thủy tinh là bệnh có tính di truyền, biểu hiện ở những gen lặn, người mắc bệnh này xương rất dễ biến dạng và gãy. Hiện trên thế giới vẫn chưa tìm ra thuốc điều trị căn bệnh này.

Chăm sóc đúng cách sẽ giúp trẻ giữ cơ chắc khỏe, xương cứng cáp hơn. Đặc biệt khi bắt đầu đi học, quan trọng là giúp trẻ hòa nhập càng nhiều càng tốt'.

Chăm sóc trẻ bị bệnh xương thủy tinh cũng giống như nâng niu một chiếc ly cổ bằng thủy tinh. Gia đình phải cẩn trọng, không cho trẻ chạy nhảy mạnh, nhà cửa phải thu xếp gọn gàng, tránh trơn trượt. Nếu trẻ đi học, phụ huynh cần thông báo với giáo viên tình trạng bệnh của trẻ.

Khi trẻ bị gãy xương, cha mẹ cần làm một chiếc nẹp thông thường bằng thanh cây và bìa carton để cố định phần xương bị gãy, sau đó mới đưa trẻ đến bệnh viện. Cần kiểm tra kỹ, nếu trẻ bị gãy cột sống cổ phải bất động cổ, nếu không có thể làm trẻ tử vong.

Hy vọng rằng những kiến thức được bác sĩ chia sẻ có thể giúp ích cho bạn nhé. Chúc bạn luôn vui khỏe và hạnh phúc cùng người thân.

Khi bị bong gân do trẹo chân, ngã hay đau lưng do tuổi già... mà chưa có điều kiện đến bệnh viện, bạn có thể dùng bài thuốc nam với lá của cây bông sứ.


Cây bông sứ có nơi còn gọi là cây hoa đại hay cây chăm-pa. Cách sử dụng lá bông sứ để cải thiện các chứng đau trên như sau:

Lá cây bông sứ rửa sạch, để khô ráo, giã nhuyễn rồi trộn với một ít muối ăn, đắp lên chỗ sưng đau do bong gân. Lấy lá bông sứ khác hơ lên lửa cho héo rồi đắp trùm lên phần thuốc đã giã nhuyễn, dùng băng băng lại để giữ thuốc. Một ngày thay thuốc 2 - 3 lần. Làm 1 - 2 ngày tùy theo chỗ sưng đau nhiều hay ít.



Ngoài ra, những người bị đau thần kinh tọa, thoái hóa cột sống, chấn thương không có biến chứng, khớp không bị sưng to, biến dạng do sai khớp nặng hoặc gãy xương đều có thể dùng bài thuốc trên, rất hiệu nghiệm.

Nắn chỉnh: Đã là trật khớp, sai khớp thì việc đầu tiên là phải nắn chỉnh. Đưa đầu xương vào đúng ổ khớp, đúng vị trí, cả về chiều và hướng. Sau đó đắp thuốc rồi băng cố định.

Thuốc bôi: Hồng hoa 10g, tô mộc 20g, xương bồ 20g, uất kim 16g, xuyên khung 16g, thiên niên kiện 16g, quế 16g, hương phụ 16g. Các vị trên thái nhỏ cho vào chai thủy tinh, đổ ngập rượu để ngâm. Dùng bông chấm thuốc xoa đều vào chỗ đau. Xoa 2-3 lần để thuốc thấm qua da vào các tổ chức bên trong.

Thuốc uống: Ngải diệp 16g, xương bồ 16g, kinh giới 12g, tục đoạn 16g, cốt toái 12g, vòi voi 16g, xuyên khung 16g, bồ công anh 20g, đinh lăng 20g, quy 16g, cam thảo 10g. Sắc thuốc ngày 1 thang. Chia 3 lần.

Thuốc đắp: Vỏ cây gạo: tùy vào vị trí đau để định ra trọng lượng. Có thể từ 100g trở lên. Cách chế: vỏ cây gạo đưa vào cối đá giã nhỏ. Trộn đồng tiện vào, xào nóng. Đắp thuốc vào chỗ đau băng lại. Ngày 1 lần. Tối đến bỏ miếng thuốc đó đi, làm miếng thuốc mới đắp vào.

Hy vọng những chia sẽ của bác sĩ có thể giúp bạn có thêm thông tin bổ ích và có lợi cho sức khỏe. Chúc bạn luôn mạnh khỏe và thành công.

Bệnh đa xơ cứng thường gây viêm và nếu lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ phá hủy màng bọc myelin của dây thần kinh, để lại nhiều vùng mô sẹo dọc theo lớp phủ ngoài các tế bào thần kinh. Cùng xem những dấu hiệu cho thấy bạn mắc bệnh xơ cứng cơ.


Không chỉ đơn giản là mệt mỏi như các căn bệnh khác, mệt mỏi rất nghiêm trọng, ngay cả khi bạn ngủ một đêm thật ngon giấc. Sự mệt mỏi này làm ảnh hưởng đến khả năng hoạt động ở tất cả mọi thời điểm.

Tê


Hơn một nửa số người mắc bệnh đều trải qua triệu chứng này. Khi xuất hiện triệu chứng trên, người bệnh có cảm giác bỏng rát hoặc cảm thấy như có con gì bò trong da, và có thể cảm nhận nó hiện diện trên khuôn mặt, cánh tay, chân. Đi bộ có thể trở nên khó khăn nếu cảm giác này xuất hiện ở bàn chân. Cảm giác tê này thường tự mất đi sau đó mà không cần điều trị.


Rối loạn chức năng bàng quang


Khoảng 80% những người bệnh đa xơ cứng gặp một số vấn đề với việc đi tiểu tại một số điểm, bao gồm đi tiểu với tần suất nhiều hơn bình thường, tiểu khó… Rối loạn chức năng bàng quang xảy ra khi MS tấn công các dây thần kinh kiểm soát bàng quang. Nó có thể dẫn đến tình trạng gọi là bàng quang co cứng, có nghĩa là bàng quang không thể giữ nhiều nước tiểu.

Co thắt cơ


Người bệnh có thể đột nhiên cảm thấy một cảm giác đau đớn đến co thắt cơ bắp. Co thắt cơ có thể được kích hoạt bởi nhiệt độ lạnh, độ ẩm cao hoặc mặc quần áo chật. Co thắt có thể xảy ra ở vai, cổ, lưng hoặc bất kỳ khu vực nào, nhưng phổ biến nhất là ở cơ bắp chân.


Đau


Đau dây thần kinh sinh ba được đặc trưng bởi những đợt ngắn của cơn đau một bên mặt dữ dội như bị đâm hay điện giật. Các cơn đau này xảy ra bất chợt, chạy từ phía sau đầu xuống cột sống. Nó được kích hoạt khi uốn cong cổ về phía trước. Cơn đau thường biến mất sau khi được điều trị với các loại thuốc chống co giật hoặc thuốc chống trầm cảm.

Hy vọng rằng những kiến thức được bác sĩ chia sẻ có thể giúp ích cho bạn nhé. Chúc bạn luôn vui khỏe và hạnh phúc cùng người thân.

Vai trò của giấc ngủ rất quan trọng trong đau nhức toàn thân: Ngủ ngon thì đau ít, ngủ không ngon thì đau nhiều. Có rất nhiều phương cách giúp bạn ngủ ngon hơn: vận động đều đặn, tránh dùng thuốc lá, cà-phê, rượu, giữ phòng ngủ thoải mái (không nóng, không lạnh, không ồn ào, không ánh sáng), ...


Những ngày khỏe khoắn, bạn cứ bình tĩnh, từ từ, đừng ham công tiếc việc, phí sức, làm việc ào ào không ai can nổi, rồi sau đó mệt quá, đau thêm, lại nằm rên suốt mấy ngày kế tiếp.

Ngược lại, vào những lúc đau nhiều, bạn có thể tìm những thú vui lành mạnh giúp quên đau. Khi say mê ta thấy bớt đau (nhưng đừng để những say mê khiến ta quên ăn, mất ngủ).



Tất cả các tài liệu viết về chứng đau nhức toàn thân đều nhấn mạnh vai trò của vận động trong chữa trị bệnh này. Thuốc có thể giúp bạn bớt đau nhức, nhưng tác dụng giảm đau của thuốc không kéo dài nếu bạn không thường xuyên vận động.

Không thường xuyên vận động sẽ làm cơ thể suy nhược, cơ xương, gân cốt mất dẻo dai, khiến bạn thấy đau nhiều hơn.

Tốt nhất là các bài tập thể dục nhịp điệu nhẹ, ít tạo nên sức nặng trên xương cốt như bơi lội, vận động dưới nước, đạp xe đạp tại chỗ, chèo thuyền tại máy ở nhà.



Khởi đầu chỉ cần ngày tập ngày nghỉ, mỗi lần chỉ cần 5 phút. Ngày hôm sau nếu có hơi đau chút, không sao. Bạn từ từ tăng dần thời gian và mức độ vận động, cho tới khi bạn có thể vận động ít nhất 20-30 phút mỗi lần, ít nhất 4 lần mỗi tuần.

Khi bạn đã lên được mức độ tập luyện như vậy, bạn có thể chuyển sang những vận động đặt sức nặng trên xương cốt như đi bộ, chạy chậm, đánh tennis. Nỗ lực vận động của bạn sẽ đem lại những kết quả tốt đẹp sau vài tháng.

Hy vọng những chia sẽ của bác sĩ sẽ giúp bạn có những kiến thức để bảo vệ sức khỏe của mình và gia đình được tốt hơn. Chúc bạn luôn vui vẻ và mạnh khỏe.

BỆNH GAI GÓT CHÂN DO Ở XƯƠNG GÓT CHÂN CÓ HIỆN TƯỢNG BÙ ĐẮP CANXI DẦN DẦN TẠI NHỮNG NƠI CÓ VI CHẤN THƯƠNG TRÊN XƯƠNG GÓT (DO ÁP LỰC CỦA VIỆC DI CHUYỂN, ĐI LẠI, MANG VÁC, TÌ ĐÈ CƠ THỂ...). BỆNH HAY GẶP Ở NGƯỜI THỪA CÂN, BÉO PHÌ, TUỔI TRUNG NIÊN, VẬN ĐỘNG VIÊN ĐIỀN KINH, NGƯỜI CÓ TẬT BẨM SINH Ở CHÂN.


Trên hình ảnh Xquang có thể thấy hình gai xương mọc ra ở xương gót. Gai xương tác động vào tổ chức phần mềm dưới da, là một cân cơ dày, có thể làm viêm các tổ chức mô đệm ở xung quanh gai xương gây nên triệu chứng đau, nếu có viêm tổ chức mô đệm xung quanh thì đau xuất hiện cả khi nghỉ ngơi và đau tăng khi đi lại.

Vì sao bị gai xương gót?


Đối với người lao động mang vác nặng trong một thời gian dài hoặc ở những vận động viên khởi động chưa kỹ, sức nặng cơ thể sẽ đè quá mức vào vùng bắp chân và gân cơ Achille và tập trung vào vùng gót chân. Khi cơ cẳng chân và gân Achille bị quá tải sẽ làm căng cân cơ vùng gan chân dẫn đến phản ứng viêm quanh gân, thậm chí làm đứt gân cơ. Để chống lại các chấn thương đó cơ thể tự bồi phụ một lớp canxi mới bao bọc quanh gân gan chân. Kết quả là hình thành xương nhỏ ở mặt dưới gót chân, gọi là gai xương gót. Tuy nhiên cần lưu ý không phải bất cứ gai xương gót nào cũng gây đau gót chân. Thực tế là nhiều người chụp Xquang có gai xương gót mà không một lần trong đời xuất hiện đau gót; hoặc nhiều người điều trị hết đau mà gai xương gót vẫn tồn tại. Ngược lại có những người đau ở gót chân mà không có gai xương. Bệnh hay gặp nhất là ở những người béo phì, tuổi trung niên (trên 40 tuổi). Ở những người này lớp mỡ đệm ở gan chân co lại, thoái triển theo thời gian dẫn đến cơ chế đệm kém hiệu quả; vận động viên phải luyện tập, thi đấu hàng ngày, cường độ cao...


Triệu chứng bệnh gai xương gót


Đau nhức nhối, chói buốt ở vùng gan chân hay xương gót. Điển hình là triệu chứng đau kiểu cơ học: đau tăng sau một đợt vận động mạnh đột ngột hay kéo dài, giảm sau khi nghỉ ngơi một thời gian. Đau nhất thường vào buổi sáng, khi mới ngủ dậy và thực hiện những bước đi đầu tiên trong ngày, phải đi đi lại lại một lúc mới giảm cảm giác đau.

Để phòng bệnh cần khởi động kỹ khớp cổ chân và căng cơ chân trước khi lao động hay chơi thể thao. Sau đó thư giãn, thả lỏng chân, gác chân cao, mát-xa gan chân. Nếu cần tập chạy hay đi bộ, tốt nhất là thực hiện cuộc chạy hay đi bộ nhiều lần trong một tuần với quãng đường ngắn hơn là chạy một lần với quãng đường dài, gắng sức. Cần bác sĩ chuyên khoa về kế hoạch luyện tập thích hợp với bản thân nhằm giúp cơ thể có thời gian dần thích ứng. Đối với những người béo phì cần giảm béo bằng chế độ ăn cũng như vận động thích hợp.

Cũng có khi đau khởi phát sau một động tác mạnh đột ngột như vận động viên chạy đạp chân mạnh để lấy đà chạy. Đau cũng tăng lên nhiều hơn khi đi lại trên bề mặt cứng hoặc khiêng vác vật nặng. Đau nhiều có thể ảnh hưởng tới công việc cũng như sinh hoạt hàng ngày.

Khám bệnh lâm sàng: dùng ngón cái ấn tại chỗ gót chân đau chói, buốt. Nếu yêu cầu bệnh nhân đứng bằng gót chân đau thường tăng đau rất nhiều.

Cần chụp phim Xquang vùng gót chân để phát hiện hình ảnh gai xương gót là một gai nhọn nhỏ mọc lên từ mặt dưới xương gót ở vùng gan chân. Tuy nhiên quan trọng hơn là để phát hiện những tổn thương khác nguy hiểm hơn cũng gây đau xương gót như viêm nhiễm xương, gẫy xương, u xương gót hay áp-xe phần mềm tại chỗ.


Hy vọng những chia sẽ của bác sĩ sẽ giúp bạn có những kiến thức để bảo vệ sức khỏe của mình và gia đình được tốt hơn. Chúc bạn luôn vui vẻ và mạnh khỏe.

Tổn thương xương viêm khớp thiếu niên hiện nay là nhóm bệnh rất hay gặp trong thực tế lâm sàng, diễn biến phức tạp, khó nhận biết và nhìn chung vẫn còn gây rất nhiều khó khăn cho các bác sỹ lâm sàng nói chung và các bác sỹ nhi khoa nói riêng trong chẩn đoán, điều trị, theo dõi và tiên lượng bệnh.


Biểu hiện chẩn đoán


Sốt: sốt kéo dài 2 tuần, viêm từ 1 khớp trở lên, kèm theo ít nhất một trong những triệu chứng dưới đây:

Nổi ban: có các dạng dát sần, ban đỏ, ban hệ thống mềm và nhanh chóng biến mất, thường xuất hiện khi sốt cao.

Nổi các hạch bạch huyết. Viêm màng tim: chủ yếu là viêm màng ngoài tim. Có gan to hoặc nách to. Yếu tố dangjt hấp (RF) và kháng thể kháng nhân (KTKN) âm tính. Thể viêm nhiều khớp RF âm tính

Tuổi mắc bệnh từ 1-3 tuổi. Tỷ lệ mắc bệnh giữa nữ và nam là 3:1. Viêm từ 5 khớp trở lên, các khớp nhỏ và nhỡ. Thường gặp: gối, cổ tay, bàn ngón tay, cổ chân. RF âm tính.

Thể viêm nhiều khớp RF dương tính

Chủ yếu gặp ở nữ. Viêm khớp: viêm các khớp nhỏ và nhỡ có tính chất đối xứng. RF dương tính từ 2 lần trở lên, giữa 2 lần làm xét nghiệm cách nhau ít nhất 3 tháng.

Thể viêm một khớp hay vài khớp Tuổi mắc bệnh: khoảng 2-3 tuổi. Tỷ lệ mắc bệnh giữa nam và nữ 5:1. Số khớp viêm <5.

Các khớp thường gặp: gối, cổ chân, khuỷu, cổ tay, các khớp nhỏ ở bàn tay và bàn chân, viêm không đối xứng. Có thể có tổn thương mắt.



Thể viêm nhiều hơn vài khớp

Viêm <5 khớp khi mới bị bệnh. Sau 6 tháng đến 1 năm, số khớp viêm tăng lên. Thể viêm khớp và các điểm bán tận Tuổi mắc bệnh: 12-16 tuổi;. Nam > nữ.

Viêm các điểm bám tận và viêm khớp các khớp thường gặp là háng, gối, cổ chân không đối xứng, các khớp nhỏ ở bàn chân. Những biểu hiện ở cột sống thường gặp ở trẻ lớn.

Hoặc chỉ có viêm khớp hoặc viêm các điểm bám tận kèm theo 2 trong số các biểu hiện dưới đây:

Đau vùng khớp cùng chậu hoặc đau vùng cột sống thắt lưng.

Viêm mống mắt cấp.

Có tiền sử bị bệnh viêm cột sống dính khớp, bệnh viêm khớp và điểm bám tận, hội chứng Reiter, viêm khớp cùng chậu có kèm theo các bệnh lý viêm ở đường ruột, viêm mống mắt cấp tính.

Thể viêm khớp vẩy nến

Khớp gối là khớp thường gặp nhất sau đó đến ngón tay và ngón chân có những tổn thương da của bệnh vảy nến. Hoặc viêm khớp kèm theo hai trong số những biểu hiện dưới đây: Viêm ngón tay (ngón tay hình khúc dồi). Tổn thương lõm ở móng tay.

Hy vọng những kiến thức được chia sẻ trong bài viết có thể giúp cho bạn đọc có cái nhìn tích cực hơn và có những phương pháp tốt nhất để bảo vệ sức khỏe cho bản thân và gia đình. Chúc bạn đọc có thời gian thật ý nghĩa và vui vẻ.

Viêm khớp nhiễm khuẩn hiện vẫn còn gặp nhiều nếu không được chẩn đoán sớm, điều trị không tích cực và kịp thời, bệnh thường đưa đến những hậu quả rất nặng nề như nhiễm khuẩn huyết, viêm xương, trật khớp, dính khớp …


Tụ cầu: đứng hàng đầu trong các loại vi khuẩn gây viêm khớp nhiễm khuẩn sinh mủ, điều trị gặp nhiều khó khăn vì hiện nay có ít loại thuốc kháng sinh có tác dụng đối với tụ cầu.

Các loại cầu khuẩn khác: lậu cầu, liên cầu, phế cầu, não mô cầu. Ít gặp trên lâm sàng hơn so với tụ cầu.

Các loại vi khuẩn khác có thể gây viêm khớp mủ nhưng ngày nay hầu như không gặp trên thực tế: trực khuẩn thương hàn, trực khuẩn Coli, vi khuẩn Pleiffer, Proteus vulgaris, xoắn khuẩn giang mai...

Đường vào của vi khuẩn:

Phần lớn viêm khớp nhiễm khuẩn đều là thứ phát sau tổn thương ở một nơi khác, đường vào của vi khuẩn có thể là:

Đường tại chỗ:

Chấn thương khớp, nhất là những vết thương hở rách bao khớp, không được xử trí đúng và kịp thời.

Những ổ nhiễm khuẩn ở gần khớp mà vi khuẩn theo đường tĩnh mạch hoặc bạch mạch lan vào khớp: mụn nhọt, viêm xương, viêm cơ, viêm ở bộ phận sinh dục, tiết niệu… trong đó hay gặp nhất là viêm cơ.

Do tiêm vào khớp: chọc dò khớp, tiêm thuốc vào ổ khớp, nhất là tiêm Hydrocortison. Viêm khớp xảy ra khi tiến hành các thủ thuật này là do không đúng chỉ định và điều kiện khử khuẩn không tốt.

Đường toàn thân: viêm khớp nằm trong bệnh cảnh nhiễm khuẩn huyết, ngoài khớp, ta còn thấy các khu trú nhiễm khuẩn ở các nơi khác như viêm cơ, viêm các màng, viêm các nội tạng.

Phòng tránh chấn thương;

Điều trị tích cực các bệnh khớp, đái tháo đường, bệnh hồng cầu liềm, bệnh thấp khớp và các rối loạn suy giảm miễn dịch.

Bỏ hoặc hạn chế uống rượu, bia.



Tránh dùng thuốc corticoid dài ngày gây suy giảm miễn dịch.

Chăm sóc tốt bệnh nhân sau các phẫu thuật để tránh nhiễm khuẩn hậu phẫu và là nguyên nhân gây viêm khớp nhiễm khuẩn sau này.

Xử lý tốt các vết thương phần mềm ở vùng da thịt gần các khớp, tránh bị nhiễm khuẩn làm tiền đề gây viêm khớp nhiễm khuẩn.

Hy vọng những chia sẻ chân thành từ bác sĩ qua bài viết sẽ giúp bạn đọc có được những tư liệu bổ ích. Chúc bạn luôn mạnh khỏe và vui vẻ trong cuộc sống.

Bệnh nhân bị trật khớp vai sẽ thấy đau không cử động được khớp vai; dấu hiệu vai vuông hay 'nhát rìu' làm vai biến dạng nhìn khác bên vai lành, cánh tay dạng khoảng 30 - 40 độ xoay ra ngoài; sờ thấy hõm khớp vai rỗng, nếu ép cánh tay vào thân, bệnh nhân bị đau, thả tay ra, cánh tay bệnh nhân trở về vị trí cũ (gọi là dấu hiệu lò xo); biên độ vận động khớp vai giảm hoặc mất hoàn toàn... 


Nhiều trường hợp trật khớp vai có kèm theo gãy xương bả vai, cổ xương cánh tay... liệt thần kinh cảm giác và vận động cánh tay...

Nguyên nhân và cơ chế gây trật khớp thường thấy nhất do ngã chống bàn tay hoặc chống khuỷu trong tư thế tay dạng, đưa ra sau, và xoay ngoài.

Chấn thương trực tiếp vào khớp vai từ sau mỏm vai ít thấy (thường do tai nạn xe honda hoặc ô tô cán).

Trong lao động gặp trật khớp vai ở công nhân khuân vác, đang vác trên một vai, một tay quàng ngược lên trên ôm lấy vật vác. Bị vấp ngã vật vác tì trên cánh tay dang làm trật khớp.



Bệnh nhân bị trật khớp vai sẽ thấy đau không cử động được khớp vai; dấu hiệu vai vuông hay 'nhát rìu' làm vai biến dạng nhìn khác bên vai lành, cánh tay dạng khoảng 30 - 40 độ xoay ra ngoài; sờ thấy hõm khớp vai rỗng, nếu ép cánh tay vào thân, bệnh nhân bị đau, thả tay ra, cánh tay bệnh nhân trở về vị trí cũ (gọi là dấu hiệu lò xo); biên độ vận động khớp vai giảm hoặc mất hoàn toàn...

Nhiều trường hợp trật khớp vai có kèm theo gãy xương bả vai, cổ xương cánh tay... liệt thần kinh cảm giác và vận động cánh tay...

Thận trọng trong các hoạt động để tránh ngã

Mang trang bị bảo vệ khi chơi các môn thể thao va chạm

Khi đã bị trật một lần, khớp sẽ rất dễ bị trật lại. Để tránh trật khớp tái diễn, nên tập một số bài tập đặc biệt để tăng cường sức mạnh và độ ổn định của khớp theo hướng dẫn của thầy thuốc.

Hy vọng những chia sẻ chân thành từ bác sĩ qua bài viết sẽ giúp bạn đọc có được những tư liệu bổ ích. Chúc bạn luôn mạnh khỏe và vui vẻ trong cuộc sống.

Bệnh viêm khớp dạng thấp là một bệnh mạn tính, kéo dài, và thường để lại nhiều hậu quả xấu. Do vậy khi bạn nhận thấy có triệu chứng, biểu hiện viêm khớp dạng thấp khi mang thai cần đi khám bác sĩ ngay, lưu ý cách tốt nhất là nên khám bác sĩ chuyên khoa xương khớp.


Nếu đã bị bệnh viêm khớp dạng thấp khi mang thai, cần xác định là hỗ trợ điều trị sớm, liên tục, lâu dài và kiên trì hỗ trợ điều trị hiệu quả.

Chú ý: viêm khớp dạng thấp khi mang thai không được tự ý mua và sử dụng những loại thuốc hỗ trợ chữa viêm khớp dạng thấp, cần nghe và làm theo chỉ dẫn của bác sĩ chuyên về xương khớp.

Đối với phụ nữ đang trong thời gian mang thai mà bị viêm khớp dạng thấp thì phải ăn uống đủ chất, có chế độ làm việc và sinh hoạt thật điều độ.

Sau khi mẹ bị viêm khớp dạng thấp sinh con, nếu là con gái cần đặc biệt quan tâm đến chế độ sinh hoạt tốt của con, không nên làm việc cũng như sinh hoạt trong thời tiết quá lạnh.

Sức khỏe bà mẹ mang thai ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của thai nhi, chính vì vậy mà bị viêm khớp dạng thấp khi mang thai nên xây dựng cũng như phác họa cho mình chế độ chăm sóc, hỗ trợ điều trị phù hợp nhằm tránh một số hậu quả xấu do bị viêm khớp dạng thấp khi mang thai.


Chế độ dinh dưỡng cho viêm khớp dạng thấp khi mang thai


Một đứa trẻ khỏe mạnh được sinh ra khi cơ thể bà mẹ phải luốn khỏe mạnh và cung cấp đầy đủ dưỡng chất cho con, quá trình mang thai là quá trình quan trọng nhất quyết định sự hình thành và sự phát triển có đầy đủ và khỏe mạnh hay không, do vậy cần có chế độ dinh dưỡng cho người bị viêm khớp dạng thấp khi mang thai là:

Cần cung cấp nhiều rau quả tươi, đặc biệt là các loại quả theo mùa như cam quýt và những loại rau xanh đậm giàu axit folic.

Bổ sung thực phẩm giàu carbohydrate cho bà mẹ bị viêm khớp dạng thấp khi mang thai như bánh mì, ngũ cốc, các loại tinh bột,…



Thịt và là các loại cá giàu chất dầu sẽ góp phần bổ sung thêm các axit béo cần thiết. Cần lưu ý tránh những loại cá kiêng khi mang bầu.

Uống sữa sẽ tốt cho thai

Con của bạn có mạnh khỏe hay không tất cả là ở bạn, bạn đang bị viêm khớp dạng thấp khi mang thai nên chú ý những điều nên và không nên làm, đặc biệt phải có một chế độ dinh dưỡng khoa học. Cách tốt nhất là hãy đến các phòng khám chuyên khoa về xương khớp khám và hỗ trợ điều trị hiệu quả.

Hy vọng những chia sẽ trên của bác sĩ sẽ giúp bạn có những kiến thức bổ ích. Chúc bạn luôn vui vẻ và mạnh khỏe trong cuộc sống.

Vôi hóa khớp gối là tình trạng bệnh lý thoái hóa, vì thế không thể có thuốc đặc trị hoàn toàn. Tình trạng của mẹ bạn mới được thăm khám tại phòng khám tư nhân bạn nên đưa bác đến bệnh viện để được bác sĩ chuyên khoa thăm khám lại, chẩn đoán chính xác và chỉ định điều trị hiệu quả. Việc điều trị bệnh vôi hóa khớp gối như thế nào còn phụ thuộc vào tình trạng tiến triển bệnh của người bệnh. 


Liệu pháp cơ bản trong điều trị vôi hóa khớp gối hiện nay là:


Giảm cân để giảm sức nặng lên xương khớp

Nghỉ ngơi khi sưng viêm, chườm nước đá, uống thuốc chống viêm không có steroid như paracetamol, ibuprofen.

Trường hợp người bệnh bị đau cần đến bệnh viện để được bác sĩ thăm khám và chỉ định sử dụng thuốc kháng sinh, giảm đau, kháng viêm nhằm mục đích giảm các triệu chứng đau nhức, khó chịu cho người bệnh trong 1 thời gian ngắn.

Sử dụng các sản phẩm bổ sung các hoạt chất sinh học thiết yếu cho khớp nhằm tăng cường khả năng dịch khớp làm giảm ma sát, làm chậm quá trình thoái hóa song song với việc phục hồi sụn, tăng cường sự bền chắc cho cấu trúc xương.

Châm cứu có thể làm giảm đau một phần nào ở phần mềm nhưng không có tác dụng vào tình trạng viêm sưng cũng như khi gai tác động lên rễ dây thần kinh não tủy.



Vật lý trị liệu, thoa bóp, luyện tập xương khớp, thực hành yoga cũng giúp giảm ảnh hưởng của gai

Để phòng ngừa bệnh vôi hóa khớp gối, bạn nên khuyên cả gia đình chú ý những vấn đề sau:


Ăn uống đầy đủ các chất dinh dưỡng, bổ sung canxi đầy đủ

Giữ trọng lượng cơ thể ở mức cân đối để không làm tổn thương khớp gối khi phải gánh trọng lượng của cả cơ thể dồn lên.

Vận động thể dục thường xuyên, tăng cường các động tác cử động cùng khớp gối, tập bơi rất tốt cho cơ thể.



Tránh các tư thế đứng, khuân vác nặng, quá lâu khi làm việc để không gây áp lực đè nặng lên khớp gối

Tránh các chấn thương ở vùng khớp gối do chơi thể thao hoặc tai nạn. Thăm khám sức khỏe định kỳ để sớm nhận biết những tổn thương xương khớp giai đoạn đầu và điều trị kịp thời hiệu quả.

Hy vọng bài viết trên có thể cung cấp thêm những thông tin hữu ích. Chúc bạn có thêm sức khỏe và nhiểu niềm vui trong cuộc sống.

Thanh thiếu niên ở độ tuổi dậy thì cũng thường gặp tình trạng đau nhức xương, tuy nhiên không nên quá lo lắng vì đây được coi là dấu hiệu bình thường khi xương và sụn phát triển quá nhanh trong khi sự phát triển của cơ bắp không theo kịp tốc độ đó.

Loãng xương là một trong những nguyên nhân gây đau nhức xương khớp, thường gặp ở người cao tuổi. Loãng xương có thể gây đau nhức các đầu xương, đau mỏi dọc các xương dài, đau nhức như châm kim toàn thân, cơn đau thường tăng về đêm. Người bệnh thường có cảm giác lạnh hoặc ớn lạnh, ra nhiều mồ hôi, chuột rút.

Do cơ thể thiếu một số nguyên tố, khoáng chất cần thiết, chẳng hạn như canxi, kali, vitamin D, vitamin nhóm B … Trường hợp này hay gặp ở trẻ em, phụ nữ mang thai, người thể lực kém, gầy yếu.

Do dây thần kinh, mạch máu bị chèn ép khiến khí huyết bị ứ trệ, kém lưu thông.

Thời tiết thay đổi liên tục, biên độ tăng/ giảm nhiệt lớn (nhất là khi trời chuyển lạnh đột ngột) có thể khiến xương khớp bị nhức mỏi. Điều này là do trời lạnh làm cho mạch máu tại các vùng da co lại, làm giảm lượng máu nuôi dưỡng các khác, màng hoạt dịch và sụn khớp, làm xuất hiện cảm giác đau nhức.

Béo phì, thừa cân làm tăng áp lực đè lên xương khớp, dẫn đến đau nhức các khớp.

Các bệnh lý liên quan tới cơ xương khớp chẳng hạn như thoát vị đĩa đêm, viêm cơ, viêm xương, thoái hóa cột sống…

Các bệnh về rối loạn chuyển hóa lipid máu, xơ vữa động mạch, rối loạn chuyển hóa đái tháo đường thường dẫn đến suy tĩnh mạch, làm giảm lượng máu nuôi dưỡng các cơ, khớp, gây nên đau nhức xương khớp.

Cách phòng ngừa đau nhức trong xương
Cách phòng ngừa đau nhức trong xương


Tập thể dục hoặc chơi thể thao với cường độ cao nhưng không khởi động kỹ càng sẽ có tác dụng không tốt lên xương khớp, dễ dẫn đêns chấn thương, chuột rút, đau nhức các khớp.
Phòng ngừa đau nhức trong xương

Một số lưu ý trong sinh hoạt người bệnh nên biết để phòng tránh căn bệnh đau nhức trong xương khớp

Xây dựng một chế độ sinh hoạt, tập luyện và nghỉ ngơi hợp lý để các cơ, xương khớp được thư giãn, tránh làm việc quá sức, sai tư thế, mang vác vật nặng thường xuyên nhằm giảm các cơn đau.

Trước khi chơi các môn thể thao, tập yoga, aerobic, nên khởi động thật kỹ giúp hạn chế tình trạng căng cơ, giãn cơ, bong gân, trật khớp… Nếu đã có các chấn thương về xương khớp nên tránh các môn thể thao có cường độ lớn hay rủi ro va chạm cao mà nên lựa chọn các môn thể thao nhẹ nhàng, chẳng hạn đi bộ, tập yoga, bơi lội, chơi cầu lông…

Xây dựng chế độ ăn uống hợp lý, đầy đủ các chất dinh dưỡng, đặc biệt là vitamin D, các vitamin thuộc nhóm B, protein cùng các khoáng chất có lợi cho sự phát triển của xương khớp như Canxi, magie, sắt, photpho ..

Hạn chế sử dụng các chất kích thích như rượu, bia, caphe hoặc thuốc lá. Khi thời tiết thay đổi, người bệnh cần mặc đủ ấm để tránh lạnh xương khớp.

Loãng xương nguyên phát xảy ra ở phụ nữ sau mãn kinh tự nhiên từ 5 đến 10 năm, hoặc phụ nữ mãn kinh sớm do đã phẫu thuật cắt buồng trứng hay do các bệnh lý khác. Phụ nữ sau tuổi mãn kinh thường có triệu chứng đau nhức xương do tổn thương nặng ở phần xương xốp.

Loãng xương nguyên phát (chiếm khoảng 80%) gồm loãng xương ở phụ nữ sau mãn kinh và loãng xương do tuổi già.

Loãng xương nguyên phát ở người cao tuổi còn được gọi là loãng xương lão hóa, xuất hiện ở cả nam và nữ sau tuổi 70 với tỷ lệ nữ với nam là 2/1. Đây là hậu quả của sự mất xương từ từ trong nhiều năm khi quá trình hủy xương xảy ra nhanh hơn quá trình tạo xương. Bệnh lý này khá nguy hiểm, có thể làm tăng nguy cơ gãy xương thân đốt sống, xương đùi nếu người bệnh không phát hiện và điều trị sớm. 

Tình trạng mất xương thường diễn ra âm thầm, vì vậy loãng xương được mệnh danh là “kẻ cắp giấu mặt” xương của cơ thể chúng ta. Ở giai đoạn đầu, người bệnh thường không phát hiện được bệnh do không có triệu chứng đặc trưng. Xem thêm về bệnh loãng xương tại đây: https://vi.wikipedia.org/wiki/Lo%C3%A3ng_x%C6%B0%C6%A1ng

Chỉ khi trọng lượng xương mất đi khoảng 30-40% bệnh mới có các triệu chứng như đau dọc các xương dài, đau cột sống, gù vẹo cột sống, xẹp lún đốt sống, giảm chiều cao, gãy xương…
Tìm hiểu loãng xương nguyên phát là gì ?
Tìm hiểu loãng xương nguyên phát là gì ?
Gãy xương là biến chứng nặng nề có thể xảy ra đối với người bị loãng xương nguyên phát. Người bị loãng xương có thể gãy xương dù chỉ va chạm nhẹ, thậm chí chỉ vì một cơn hắt hơi. Gãy xương thường xảy ra tại các vị trí chịu lực của cơ thể như cột sống, cổ xương đùi, xương cổ tay… Bởi là các vị trí quan trọng, nguy hiểm nên người bệnh khó phục hồi. Nguyên nhân bị tê tay chân http://coxuongkhoppcc.com/nguyen-nhan-bi-te-tay-chan.html

Vì vậy người bệnh cần điều trị sớm và kịp thời, nên khám bệnh định kỳ để phát hiện bệnh sớm. Đồng thời có chế độ vận động, chế độ dinh dưỡng hợp lý để giảm tình trạng mất xương của cơ thể.

Chế độ ăn uống cần cung cấp đủ năng lượng, canxi, vitamin D và các khoáng chất cần thiết. Thực phẩm giàu canxi như tôm, cua, hải sản, các loại đậu, trứng, sữa và các sản phẩm của sữa…

►Xem thêm: Viêm khớp Still

Viêm khớp Still là một trong ba thể lâm sàng của bệnh viêm khớp mạn tính ở trẻ em. Bệnh thường gặp ở trẻ dưới 16 tuổi, hay gặp ở bé gái, tuổi hay gặp 2 và 7 tuổi.

Viêm khớp Still là một trong ba thể lâm sàng của bệnh viêm khớp mạn tính ở trẻ em.

Cơ chế gây viêm khớp mạn tính ở thiếu niên vẫn còn chưa được biết rõ. Người ta chỉ ghi nhận sự hiện diện của một số kháng thể miễn dịch tuỳ theo thể bệnh: HLA B27 trong 90% các trường hợp viêm khớp cột sống ở trẻ em, kháng thể kháng nhân (ANA) trong thể tổn thương ít khớp hay yếu tố thấp (RF) trong thể tổn thương nhiều khớp.

Triệu chứng viêm khớp có thể xảy ra ngay từ đầu hay sau vài ngày. Bệnh biểu hiện ở ngoài khớp, ở ngoài da và nội tạng. Người bệnh thường sốt cao kéo dài, sốt chu kỳ, mệt mỏi, đau nhức cơ toàn thân và các triệu chứng này không giảm khi dùng aspirine liều thông thường.

Viêm khớp Still ở trẻ em là bệnh gì ?
Viêm khớp Still ở trẻ em là bệnh gì ?


Biểu hiện ngoài da: ban đỏ dạng sởi, nhanh bay sau vài giờ. Hạt dưới da: nổi ở quanh các khớp, cứng, không đau. Bệnh có các dấu hiệu toàn thân khác với thể đa khớp mà ít ảnh hưởng đến toàn thân.. Các tổn thương ở khớp như sưng đau các khớp nhỏ, khớp cổ tay, cổ chân, gối, khuỷu,…

Người bệnh thường sốt cao kéo dài, sốt chu kỳ, mệt mỏi, đau nhức cơ toàn thân và các triệu chứng này không giảm khi dùng aspirine liều thông thường.

Các tổn thương khác cũng có thể gặp như trẻ bị nổi hạch, gan lách to, viêm đa màng như tràn dịch màng phổi, viêm màng tim hay viêm cầu thận. Xét nghiệm máu cho thấy tăng cao bạch cầu (chủ yếu là bạch cầu đa nhân trung tính), giảm tiểu cầu, thiếu máu.

Khi có những biểu hiện trên thì phụ huynh cần đưa trẻ đến các bệnh viện có phòng khám chuyên khoa cơ xương khớp để chẩn đoán và điều trị kịp thời. Nếu để lâu bệnh nặng sẽ gây nguy hiểm. 

Điều trị bao gồm các biện pháp không dùng thuốc (vật lý trị liệu, duy trì sinh hoạt thường ngày), dùng thuốc (thuốc giảm đau, thuốc chống viêm giảm đau, thuốc tác động vào hệ thống miễn dịch của cơ thể) và điều trị ngoại khoa.

Run tay chân là những cử động vô thức, tự phát thường xuất hiện ở tay, chân, đầu hoặc bất kỳ một bộ phận nào của cơ thể. Bệnh có thể xuất hiện ở nhiều người từ 45 tuổi trở lên với cường độ và biên độ run khác nhau, rung cả khi nghỉ ngơi hoặc khi vận động. 

Tuy run tay chân không ảnh hưởng đến cơ thể và sức khỏe nhưng thường khiến người bệnh gặp khó khăn khi đi lại, nói chuyện hoặc vệ sinh cá nhân. Tuổi càng cao thì mức độ run càng mạnh và có thể khiến người bệnh bị mất thăng bằng cơ thể.

Nguyên nhân gây bệnh run tay chân ở người cao tuổi

Ngoài những căn bệnh xương khớp thường gặp như thoái hóa khớp, viêm khớp…người cao tuổi còn rất dễ mắc bệnh run tay chân. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, có nhiều nguyên nhân khiến người bệnh gặp phải tình trạng run tay chân. Tuy chưa xác định được đâu là nguyên nhân chính xác nhưng tập trung nhất vẫn là 3 nguyên nhân sau đây:

Tìm hiểu bệnh run tay chân ở người cao tuổi
Tìm hiểu bệnh run tay chân ở người cao tuổi


Bệnh run tay chân lành tính:

Hiện tượng run tay chân lành tính thường diễn ra khi người bệnh vận động, nếu nghỉ ngơi thì sẽ biến mất. Những người thường gặp phải trường hợp này thường từ 80 tuổi trở lên, hơn 50% khả năng là do trong gia đình từng có người mắc bệnh. Những cơn run tay chân lành tính có thể khiến người bệnh cảm thấy khó chịu vì kèm theo các triệu chứng đầu gật gù, môi lưỡi run và khó thực hiện những vận động đơn giản như cầm nắm.

Suy giảm chức năng não bộ:

Khi chức năng não bộ bị suy giảm sẽ gây ra tình trạng rối loạn điều hòa vận động và xuất hiện những triệu chứng run tay run chân. Đặc biệt, nếu người bệnh càng chú ý vào những cơn run thì càng run mạnh. Người bị mắc bệnh xơ vữa động mạch não, cận u, teo não thứ phát, dùng thuốc chống động kinh phenytoin quá liều hoặc nghiện bia rượu thường có nguy cơ bị suy giảm chức năng não bộ rất lớn. Cơ xương khớp PCC http://coxuongkhoppcc.com/

Bệnh Parkinson gây run tay chân:

Parkinson là căn bệnh về thiếu hụt chất trung gian có tên là dopamin trong hệ thần kinh trung ương. Căn bệnh thường kèm theo một triệu chứng như người cứng ngắc, khó cử động, tay xoay vòng không giữ vững được, dáng đi giật cục. 

Bệnh Parkinson có thể gây run tay chân ngay rất mạnh và nhanh cả lúc người bệnh nghỉ ngơi và vận động. Ngoài ra, khi mắc bệnh này, nhiều người thường gặp ảo giác và mau quên.

►Xem thêm: Thiếu canxi máu

Thiếu canxi máu hay còn gọi là hạ canxi máu, là tình trạng máu có nồng độ canxi thấp dẫn đến thiếu hụt do thiếu canxi và vitamin D. Thông thường, nồng độ canxi huyết thanh toàn phần < 8,8 mg/dl (2,20 mmol/l) thì được coi là thiếu canxi máu. Thiếu canxi máu có thể xuất hiện ở mọi đối tượng và có thể đưa đến nhiều biến chứng nguy hiểm liên quan đến tim mạch.

Có nhiều nguyên nhân gây ra tình trạng hạ canxi máu như:

– Tăng tạo xương trong khi cơ thể không được cung cấp đủ canxi, rối loạn tiêu hóa kéo dài dẫn đến hấp thu kém.

– Suy hoặc giả suy tuyến cận giáp trạng.

– Mắc các bệnh lý về thận, viêm tụy.

– Thiếu hụt vitamin D, thiếu hụt magie.

– Giảm albumin máu, tăng photpho máu

– Sử dụng các thuốc canxi huyết như thuốc chống động kinh, thuốc cản quang, truyền máu nhiều, rifampicin…
Dấu hiệu nhận biết bệnh thiếu canxi máu

Dấu hiệu nhận biết bệnh thiếu canxi máu như thế nào? Khi nồng độ canxi toàn phần bình trong máu ở mức thấp, dưới 8,8 mg /dl (2,20-2,60 mmol/l) sẽ dẫn đến tình trạng thiếu can xi máu với biểu biện say đây:

Nhận biết bệnh thiếu canxi máu
Nhận biết bệnh thiếu canxi máu


– Co cứng cơ do chuột rút ở vùng lưng và chân. Nếu tình trạng thiếu canxi máu diễn tiến âm ỉ và kéo dài có thể khiến người xuất hiện một số biểu hiện về thần kinh như trầm cảm, lú lẫn, phù gai thị, đục thủy tinh thể…

– Xuất hiện cơn tetani cả khi canxi toàn thần bình thường lẫn hạ canxi máu nặng với biểu hiện dị cảm ở đầu môi, lưỡi, chi, bàn cổ chân, co cứng co mặt, cơ tay và chân, đau cơ lan tỏa.

– Dấu hiệu Chvostek đặc trưng là những cơn co cơ mặt tự phát thể hiện khi bị gõ nhẹ vào dây thần kinh mặt ngay trước ống tai.

– Dấu hiệu Trouseau là những cơn co rút cơ ở bàn tay, cổ tay khi lượng máu cung cấp cho bộ phận này bị suy giảm. Không chỉ xuất hiện khi hạ canxi máu mà còn xuất hiện trong các trường hợp hạ magie máu, hạ kali máu, kiềm hóa máu.

– Loạn nhịp tim, rối loạn dẫn truyền trong tim.
Biểu hiện thiếu canxi máu ở người lớn:

Ngoài các dấu hiệu trên đây, bệnh nhân còn có các biểu hiện tăng phản xạ gân xương, rối loạn nhịp tim, đau thắt bụng, trầm cảm, cáu gắt, chậm chạp, co giật, co thắt cơ…

Phụ nữ mang thai là đối tượng có nguy cơ bị thiếu canxi máu rất cao, đe dọa đến sức khỏe của mẹ và sự phát triển của thai nhi. Nhận biết sớm các biểu hiện thiếu canxi ở phụ nữ mang thai sẽ giúp các mẹ có biện pháp xử lý kịp thời.

Biểu hiện thiếu canxi máu ở trẻ sơ sinh:

Trẻ sơ sinh bị thiếu canxi máu thường khó bú, biếng ăn, xuất hiện dấu hiệu Chvostek và Trousseau, co rút cơ, co giật và run… Trong trường hợp này, cha mẹ cần phải nhanh chóng cung cấp đầy đủ canxi cho trẻ. Đọc thêm bài viết Bổ sung canxi cho trẻ sơ sinh như thế nào ? để biết cách bổ sung canxi cho trẻ hợp lý nhé.

Hạ canxi máu có thể gây ra các biến chứng nguy hiểm ở cả người lớn và trẻ nhỏ như suy dinh dưỡng, loãng xương, nhuyễn xương, chậm phát triển, suy giảm chức năng não bộ và khả năng vận động… Do đó, cần phát hiện bệnh sớm và điều trị kịp thời dưới sự theo dõi của bác sĩ. Người bệnh cũng nên bổ sung canxi qua thức ăn bằng các thực phẩm giàu canxi và vitamin D như tôm, cua, thịt, cá, trứng, sữa, pho mát… và thường xuyên rèn luyện cơ thể ngoài trời để hấp thu vitamin D hiệu quả.

Xẹp đĩa đệm cột sống là tình trạng địa đệm cột sống bị mất nước nên mất đi độ mềm mại, dẫn đến bị xẹp gây ra những cơn đau dữ dội. Đây là một trong số các bệnh về xương khớp rất phổ biến mà nhiều người đang mắc phải hiện nay. Xẹp đĩa đệm thường xảy ra ở cột sống thắt lưng ảnh hưởng nghiêm trong tới khả năng vận động, sinh hoạt và công việc của người bệnh.

Nguyên nhân gây ra xẹp đĩa đệm cột sống

Bệnh xẹp đĩa đệm cột sống là do nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra, những yếu tố dưới đây được xác định có ảnh hưởng trực tiếp dẫn đến bệnh cũng như khiến cho tình trạng bệnh nghiêm trọng hơn mà bạn cần lưu ý:

– Do bệnh loãng xương: đây là nguyên nhân chủ yếu gây ra bệnh xẹp đĩa đệm cột sống, xẹp đốt sống. Nguyên nhân là khi bị loãng xương nghĩa là cấu trúc xương thiếu vững chắc và dễ bị tác động hoặc chấn thương dẫn đến bị lệch vị trí.

– Do ít vận động: những người là việc trong môi trường ít vận động, ngồi nhiều, ngồi không đúng tư thế sẽ có nguy cơ mắc bệnh xẹp đĩa đệm cột sống hơn những người khác, thường xảy ra nhiều đối với dân văn phòng, lái xe,…

Xẹp đĩa đệm cột sống là gì?
Xẹp đĩa đệm cột sống là gì?


– Do thường xuyên làm việc nặng nhọc, mang vác nặng khiến cho cột sống bị lệch, cong vẹo lâu dần dẫn đến bị xẹp đĩa đệm cột sống.

– Do các chấn thương, tai nạn

– Do cấu trúc đĩa đệm và cột sống bị yếu.
Các triệu chứng xẹp đĩa đệm cột sống

Cũng như các bệnh về xương khớp, bệnh xẹp đĩa đệm cột sống cũng đặc trưng bởi biểu hiện cơn đau và khó khăn khi vận động. Cụ thể như sau:

– Bị đau mạnh ở vùng thắt lưng, đau lưng đột ngột

– Các cơn đau xuất hiện nhiều mỗi khi người bệnh đứng, ngồi, di chuyển, nhất là khi cúi xuống hoặc mang vác vật nặng càng đau hơn. Cơn đau chỉ giảm khi người bệnh nằm ngửa nghỉ ngơi.

– Người bệnh bị hạn chế về vận động, các cử động như cúi, ngồi, đứng lâu đều bị chi phối bởi các cơn đau rất khó chịu. Tình trạng kéo dài sẽ dẫn đến bị cứng khớp xương, thiếu linh hoạt và có thể dẫn đến không còn hoạt động được bình thường.

Khi bị xẹp đĩa đệm cột sống, người bệnh cần chú ý nghỉ ngơi hợp lý kết hợp với lối sống khoa học, lao động hợp lý. Cần tuyệt đối tránh các tác động khiến cho tình trạng bệnh nghiêm trọng hơn. Khi gặp các biểu hiện bệnh, bạn cần đến gặp bác sĩ để được chữa trị và làm theo lời khuyên.

►Xem thêm: Đau lưng kinh niên

Đau lưng là căn bệnh mà bất kỳ ai cũng phải trải qua ít nhất một lần trong đời. Đau lưng bao gồm nhiều thể loại từ những cơn đau âm ỉ đến đau liên tục hay đột ngột từng cơn,.. đôi khi còn gây khó khăn trong việc di chuyển. Các cơn đau lâu ngày không được điều trị sẽ dần chuyển thành đau lưng kinh niên, không chỉ gây bất tiện trong sinh hoạt mà còn ảnh hưởng trực tiếp lên sức khỏe của người bệnh.

Nguyên nhân gây ra các cơn đau kinh niên có thể kể đến như:

Càng có tuổi, nguy cơ mắc chừng đau lưng và các bệnh về xương khớp càng cao. Chứng đau lưng kinh niên thường xuất hiện phổ biến ở nhóm đối tượng trong độ tuổi từ 30-50, lao động quá sức trong độ tuổi này khiến họ dường như cạn kiệt hoàn toàn năng lượng, cộng thêm thiếu hụt về mặt dinh dưỡng sẽ làm xương khớp dễ bị tổn thương hơn.

Vận động là một trong những nhân tố chính giúp duy trì hoạt động sống của con người, nếu không có vận động thì sự tồn tại của con người cũng trở nên vô giá trị. Việc lười vận động và không chịu khó tham gia các hoạt động thể dục thể thao khiến thể chất dần trở nên suy yếu, cơ xương kém phát triển nhất là trong độ tuổi dậy thì, lâu dần sẽ hình thành những cơn đau lưng.

Nguyên nhân bị đau lưng kinh niên
Nguyên nhân bị đau lưng kinh niên 


Đừng tưởng đau lưng không mang yếu tố di truyền. Nếu trong gia đình bạn có người thân mang tiền sử bệnh viêm thấp khớp, viêm cột sống dính khớp thì nguy cơ lớn bạn cũng có khả năng mắc phải căn bệnh này. Đây là hai trong số nhiều căn bệnh mang yếu tố di truyền về xương khớp làm ảnh hưởng đến cột sống lưng gây ra các cơn đau kéo dài. Tê chân tay http://coxuongkhoppcc.com/te-tay-chan.html

Những rối loạn trong hệ tiêu hóacảy ra ở chức năng gan và dạ dày, cùng một số cơ quan nội tạng khác khiến các dây chằng bị co thắt, hạn chế nhu động của một số bộ phần và có thể làm dịch chuyển vị trí của chúng gây ảnh hưởng đến cơ hoành. Khi cơ hoành không thể thả xuống hết và không được nghỉ ngơi trong thời gian dài, sự quá tải này sẽ hình thành nên các cơn đau cột sống, đặc biệt là vùng thắt lưng.

Canxi góp một phần quan trọng trong việc duy trì sự khỏe mạnh và dẻo dai của xương khớp. Nhu cầu canxi trung bình của một người trong độ tuổi từ 19-50 phải đảm bảo đủ 1.000mg canxi/ ngày. Nếu không hấp thụ đủ lượng canxi trên trong thực phẩm, cơ thể buộc phải lấy chúng từ các mô xương, nếu hoạt động này diễn ra thường xuyên thì chẳng mấy chốc xương khớp của bạn sẽ mỏng đi, yếu dần và dễ bị tổn thương hơn, giảm sức nâng cơ thể.

Để phòng tránh những cơn đau lưng kinh niên mọi người nên cải thiện điều kiện thể chất hiện tại, năng vận động và cố gắng kiểm soát cân nặng ở mức ổn định để giảm áp lực lên xương khớp. Nếu đã bị đau lưng kinh niên, người bệnh đặc biệt là người lớn tuổi và phụ nữ nên hạn chế các yếu tố làm gia tăng cơn đau như béo phì, thuốc lá, đồng thời cũng nên tránh lao động vất vả và lo nghĩ nhiều nhằm giảm bớt cường độ đau.

Bắp cải là một vị thuốc chữa bệnh được sử dụng rất nhiều trong đông y và cả y học hiện đại. Theo Đông y, bắp cải vị ngọt, tính hàn, không độc, có tác dụng hòa huyết, thanh nhiệt, thanh phế, trừ đàm thấp, làm mát dạ dày, giải độc, lợi tiểu. Dùng bắp cải có tác dụng chữa trị nhiều căn bệnh như chữa đau khớp, nhức mỏi khớp, bệnh tiểu đường, ho nhiều đờm, viêm loét dạ dày tá tràng,

Theo y học hiện đại nghiên cứu xác định trong thành phần của bắp cải chứa hàm lượng vitamin C, vitamin K dồi dào, các hóa chất thực vật (phytochemicals) và đặc biệt rất giàu glutamine là một chất kháng viêm thiên nhiên có tác dụng giảm đau hiệu quả.


Chất glutamine – chất có tác dụng kháng viêm, giảm đau có nhiều trong lá xanh đậm bên ngoài của rau bắp cải nên dùng để làm giảm đau nhức xương khớp rất tốt. Do đó để làm giảm đau khớp bạn cần chọn những lá sậm màu bên ngoài cùng của cây bắp cải để dùng. Cách dùng bắp cải như sau:

Cách làm giảm đau khớp bằng bắp cải
Cách làm giảm đau khớp bằng bắp cải


– Trước tiên, bạn lấy lá bắp cải rửa sạch, dùng dao cắt bỏ phần cọng cứng ở cuống lá và phần gân giữa lá. Xem thêm về bệnh đau khớp tại đây: https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90au_kh%E1%BB%9Bp

– Trải lá bắp cải lên mặt phẳng, dùng chai rượu lăn qua lăn lại trên mặt lá cho tới khi lá bị dập và tiết dịch. Tiếp đến bạn mang lá này cho vào lò vi sóng hoặc hấp lên cho đủ ấm.

– Dùng bắp cải vừa hấp ấm quấn xung quanh vùng khớp bị đau và dùng dây buộc lại và để cố định trong khoảng 1 giờ. Khi lá nguội thì thay bằng lá khác cho tới khi hết đau khớp. Người bệnh nên thực hiện quấn lá vào buối tối trước khi đi ngủ, để lá qua đêm.

Cách giảm đau khớp bằng lá bắp cải rất đơn giản mà mang lại hiệu quả cao và tuyệt đối an toàn cho sức khỏe so với khi dùng các loại thuốc giảm đau. Chính vì thế, các bạn có thể tận dụng để thực hiện thường xuyên hỗ trợ điều trị bệnh xương khớp hiệu quả.